TÌNH EM XỨ QUẢNG

Wednesday, August 20, 2014

CÁI MỦNG ĐỰNG ĐỒ MAY CỦA MẸ - Nguyễn Thị Duy


( Viết nhân ngày giỗ Mẹ)

                                                      ".... Cho tôi lại ngày nào , trăng lên bằng ngọn cau .
                                                            Me tôi ngồi khâu áo, bên cây đèn dầu hao....
                                                            Cho đi lại từ đầu ... chưa đi vội về sau ...." ( PD )   

    Mấy đứa con chị rủ nhau đi "shoping" mua hàng "sale". Lúc về mỗi đứa mang theo một túi đựng áo quần đã mua được . Bọn chúng bước vào nhà hí hửng nói với chị "Me ơi! có "job" cho mẹ làm đây nè !". Áo quần trong nhng túi xách được bọn chúng lôi ra bày đầy bàn. Đứa nầy nói "Mấy cái quần nầy hơi rộng, mẹ sa dùm chỗ lưng và ống quần hẹp lại giúp con nghe!". Đứa kia nói "Mẹ cắt ngắn bớt mấy cái tay áo nầy giúp con nè!" . Có đứa nhờ mẹ thật là khôn khéo ... Nó mặc áo vào , tới đứng trước mặt chị rồi hỏi: “Mẹ thấy có được không mẹ? Con nghĩ mình nên lên lai ngắn lên một chút sẽ đẹp hơn mẹ há?. Tuần ti con có cái đám cưới của con nhỏ bạn đó mẹ". Thấy bọn nhỏ "tấn công" chị quá nên chồng chị cũng "xót ruột", anh nói: "Tụi bây làm như mẹ tụi bây là chủ cái tiệm sửa đ không bằng !". Chị thì chỉ hứng thú sửa đồ cho mình và cũng thích mặc áo quần đẹp, áo quần mới. Từ chỗ "suy bụng ta ra bụng người" mà chị hiểu được tâm lý của các con. Bởi vậy cho dù có ngao ngán đến đâu chị cũng phải ngi vào bàn máy và m cái hp đựng đồ may ra rồi cằm cục ngồi sửa đồ cho tụi nhỏ. Lòng người mẹ lúc nào cũng thương con nên có sá chi cái công khó ấy... và cũng những lúc ny chị lại rưng rưng nhớ về mẹ chị thật nhiều... Chị nhớ làm sao... hình ảnh mẹ chị ngồi cặm cụi bên cái mủng đựng đồ may để may từng bộ quần áo cho chị lúc chị còn nhỏ. Chị cũng không  biết từ bao giờ... mà khi lớn lên chị đã nhìn thấy mẹ chị cũng có một cái mủng nho nhỏ để đựng đồ may như cái hp đựng đồ may của chị . Cái mủng nầy là của cha chị đan cho mẹ chị dùng. Cái mủng hơi thô nhưng trông rất chắc chắn. Mẹ chị dùng lâu ngày nên cái mủng bóng lên như được đánh lớp dầu bóng bên ngoài . Ngoài những dụng cụ dùng để may vá thì trong cái mủng nầy của mẹ có đủ thứ. C mi lần nht được vật gì coi còn dùng được mẹ ch lại cất vào cái mủng nầy. Từ mấy cái đinh đóng guốc, mấy con ốc vít, chai dầu nhị thiên đường, cái lược chải đầu nhỏ xíu, cái gương soi mt ... và ... có cả đến mấy viên bi chai đủ màu, my cng dây thun mà chị em chị hay dùng để chơi với nhau. Lâu lâu mẹ lại đổ cái mủng nầy ra giữa sàn nhà để dọn dẹp là my chị em chị lại chạy ào tới để lượm đ chơi. Mẹ chị lại la toán lên "Để yên ! đừng có phá !". Cả nhà cứ mỗi lần cần cái gì thì cứ nói nhỏ với nhau "Li chỗ cái mủng đựng đồ may của mẹ tìm thử coi có không ?" Tất nhiên là sẽ có vì trong đó có đủ thứ mà ...Đám con cháu trong nhà đứa nào cũng đã có mt ln li ngi gn m  khi thy bà ngi may bên cái mng ny để lân la trò chuyn và để được vc phá my th m ch ct du trong đó.Trong cái mủng đựng đồ may nầy mẹ chi quý nhất là cái kéo. Nghe nói cái kéo nầy do người cháu đi học ở Huế về tặng cho mẹ chị. Cái kéo sáng loáng và rất là bén . Mẹ ch thường dấu nó ở dưới đáy mủng. Ch rt thích mân mê cái gi dùng để ghim nhng cây kim may ca m. M chị đã dùng nhng si tóc rng ca m trong nhng lần chi đầu đ dn vô trong cái gối nhỏ xíu. Mẹ nói cái gối nhồi bằng tóc bên trong sẽ giữ cho kim ghim vào không bị rỉ rét. Ngày đó mẹ chị cũng không dùng cái thước dây như nhng người th may hay dùng. Bà có cái thước riêng cho mình bằng một thanh tre dài khong hơn ba gang tay có khắc nhng vạch đánh dấu ni tấc để đo mà bà gọi là "cái thước ba mươi đồng". Cho đến bây giờ chị cũng không hiểu được ti sao m ch li gi cái thước đó là cái thước "ba mươi đổng". Với cái thước " ba mươi đồng " đó mẹ chị đã ct may không biết bao nhiêu là áo quần cho anh chị em nhà ch, từ đứa lớn cho đến đứa nhỏ . Áo quần mẹ ch may không có kiểu cách cầu kỳ nhưng đường may sc so và đứa nào mặc vào cũng vừa vn chng thua gì thợ may bằng máy. Vậy đó, tuổi thơ của chị lớn dần theo từng chiếc áo , chiếc qun mà mẹ may cho và lúc nào ch cũng thy m áp trong vòng tay yêu thương ca m . Sau ny hình như m cm nhn được nhng chiếc áo qun m may cho chị đã không còn hp vi thi trang bên ngoài na nên mi ln có được xp vi đẹp m li dt chị đến ông th may trên đầu chợ để may. Riêng phn mthì th may không ly được ca me đồng bc nào vì mẹ đã t may qun áo cho mình, ngoài cái áo dài. Cũng như cái ô trầu, cái mủng đựng đồ may đã gắn bó với cuộc đời của mẹ ch không lúc nào rời xa.  Những năm tháng trong chiến tranh khc lit, quê chị cũng ngập chìm trong khói la. Gia đình ch cùng vi bà con quê dt dìu nhau chạy về thị xã đ lánh nạn, sống xúm xít cùng nhau trong các tri tm cư. Mẹ chị cũng không quên mang theo cái ô trầu và cái mủng đựng đồ may. Nhng ngày tháng sng tri tm cư, dưới mái nhà tôn nóng bc m ch li tiếp tc vi nim vui ca mình, li vá vá, khâu khâu nhng chiếc áo qun đứt  nút, st ch ... cho c nhà .

 
 Theo năm tháng, chị cũng đã lớn khôn. Rồi chị có chồng. Như con chim non đã đủ lông, đủ cánh muốn vụt bay ra khỏi tổ ấm của mẹ. Nhưng chẳng được bao lâu thì ngày 30 tháng tư đen ti  ập đến. Cả miền Nam tự do không còn nữa. Ch mt mình vi my đứa con nh di và người chồng trong  tù "cải tạo". Cũng như hu hết những người vợ "tù ci tao" khác  ch hụt hẩng, lc lõng gia chợ đời đổi thay. Vòng tay yêu thương của mẹ lại dang rộng ra để bảo bọc, cưu mang mấy mẹ con chị như những ngày chị còn tấm bé. Nhng lúc bên chị mẹ thưng hay vỗ về an i chị "đừng có lo! có mẹ đây!". Câu nói mà mẹ đã thường xuyên nói với anh chị em chị trong nhng ngày thơ ấu.  Mà thật đúng như vậy. Trong suốt thời gian khốn khó nầy mẹ chị luôn luôn có bên cạnh chị để nâng đỡ chị về tinh thần lẫn vật chất. Có lúc mẹ chị không những là người mẹ, mà như là người chị, như là người bạn để chia xẻ với chị nhng  nổi khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Những tháng ngày nầy mẹ chị lại bận rộn bên cái mủng đựng đ may để vá, để khâu lại từng bộ quần áo cho các cháu. Vải vóc lúc bấy giờ phm cht thì xấu lại phân phối nhỏ giọt theo từng nhân khẩu trong gia đình. Mấy đứa con của chị lại không biết giữ gìn nên lúc nào qun áo ca bọn chúng nhìn cũng lôi thôi, lếch thếch. Mẹ chị lại lục lạo trong những thùng đồ cũ đ tìm xem  cái nào còn tốt thì sửa lại cho mấy cháu dùng. Nhìn đường kim may của mẹ trên những bộ quần áo của các con lòng chị lại bồi hồi. Đường may của mẹ không còn sắc sảo như xưa ... trông như cẩu thả hơn, các khoảng cách của mũi kim như rộng hơn ... Chị cảm nhận được sức khoẻ của mẹ đã từ t đi xuống theo thời gian...Chị thy xót xa khi nghĩ lại  mình chưa làm được gì cho mẹ c...Ôi ! Lòng mẹ bao la quá ! Mẹ đã hy sinh cả cuộc đời mình vì các con.

      
Sau những năm tháng lưu lạc ở xứ người, chị về lại quê nhà thăm mẹ. Mẹ chị đã yếu đi rất nhiều nhưng vn còn minh mẫn để chuyện trò cùng chị. Cái mủng đựng đ may của mẹ nằm buồn trên nóc tủ. Bây giờ nó trở thành chỗ để chủ nó cất những vật dụng cá nhân cần dùng. Nghe tiếng chị đi lại gần, mẹ chị lên tiếng " Đứa nào đó ! lại chỗ cái mủng đựng đồ may lấy cho mẹ chai dầu !". Rồi có lúc mẹ lại sai "Có đứa nào đó không?  lại chỗ cái mủng đựng đ may lấy cho mẹ chai thuốc nhỏ mắt!".  Rồi thời gian cứ vô tình trôi đi ... Mẹ chị cũng không thể nào "lt da sống đời " với con cháu được... bà yếu dần và ra đi ở cái tuổi 93 . Chị v thăm mẹ ln nầy, mẹ chị đã không còn ngồi đó để sai chị lại chỗ cái mủng đựng đồ may lấy cái nầy, lấy cái nọ . Cái mủng đựng đồ may nằm chỏng chơ một mình ... người chủ nhân đã một thời gian dài gắn bó cùng nó đã ra đi...

     Trong nng chiu vàng vt, chị đứng trên gò m cao nhìn xung, dưới chân mộ mẹ chị là cánh đồng lúa xanh bát ngát, sóng lúa nhấp nhô theo gió chiều lng lng thổi. Hình ảnh mẹ chị lại hiện về với những kỷ niệm trải dài theo năm tháng ấu thơ của chị. Mắt chị rưng rưng ... ch nói nho nh như  thì thầm với mẹ Me có nghe chăng con về.
Chiu nay thời gian đứng yên để nghe. Nghe gió trong tim tràn trề. Nụ cười nhăn  nheo
bỗng dưng lệ nhoà... "

    Ngoài kia nắng hạ xôn xao... Tháng 5 lửng thửng lại về ... Ngày giỗ mẹ chị lại đến. Dư âm ca ngày lễ Mẹ như còn đây. Chậu hoa lan của mấy đứa con tặng cho chị vẫn còn tươi  rói trên bàn. Chị lai khắt khoải nhớ về mẹ. Ước chi ch còn có m bên cnh để ch làm được mt vic gì đó cho m hay nói vi m "Mẹ ơi! Con cm ơn mẹ đã cho con có được mt thi thơ ấu tht tuyt vi". Chị lai suy nghĩ không biết  hình ảnh của chị bên cái hộp đựng đồ may đ ngi sửa quần áo cho các con có còn đọng lại trong ký ức của bọn nhỏ sau nầy hay không... Riêng chị vẫn nghe đâu đây tiếng nói của mẹ  "Đừng  lo! Có mẹ đây !" ....
                                                                                                                                
                                                               
                                                                    Charlotte, tháng 5 / 2014

                                                                            Nguyễn Thị Duy       

Sunday, August 17, 2014

ĐÀ NẴNG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG


LTS: Lam Hà là bút hiệu của cựu Đại Uý, cựu Học Sinh TH Phan Chu Trinh Đà Nẵng, Sĩ Quan Tuỳ Viên cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QĐ1/QK 1 /VNCH. Bài dưới đây trích từ Nhật Ký của một Tuỳ Viên Tưởng Ngô Quang Truởng.

Hôm nay, ngày 23 tháng 10, năm 2010, tôi đi dự lễ tiễn đưa Đại Tá Đặng văn Phước về nơi an nghỉ cuối cùng. Ông là Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 51, và chính ông là người đã nhận tín hiệu cuả tôi qua cái đèn bấm và cái Samsonite, ông đã can đảm đáp xuống cột cờ BTL/HQVI Duyên Hải để cứu Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lịnh Quân Đoàn I và tôi, ra khỏi vùng nguy hiểm vào khoảng 2 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.
Sau đó chúng tôi ghé núi Sơn Chà bốc Chuẩn Tướng Khánh, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Quân, rồi trực chỉ phi trường Non Nước để nhập cùng anh em Thủy Quân Lục chiến Việt Nam.
Tôi muốn giữ im lặng sau cuộc chiến, như bao nhiêu chiến binh chuyên nghiệp khác. Nhưng tôi không thể nào quên được bài báo của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng đã đăng trong tuần báo Viet Tide cuả ông Vũ quang Ninh (chủ nhiệm) và cô Mai Khanh (chủ bút).
Là người học sử, hay viết sử, phải tôn trọng “sử xanh”, và là những người có phương tiện truyền thông để dẫn dắt dư luận quần chúng, xin diễn đạt vô tư, chính xác, và nhất là để cho các thế hệ con cháu biết sự thật là tại sao thế hệ cha ông phải chiến đấu và đã chiến đấu như thế nào.

Bài báo đã đăng ở trang 71 (Viet Tide số 421)
Lá thư tôi hỏi và trang báo xin đăng đã bị phớt lờ. 
Chúng tôi, những người đã tận tình phục vụ quê hương xứ sở, quên cả thân mình, cha mẹ, vợ con cùng thân bằng quyến thuộc, đã làm hết khả năng và bổn phận của người quân nhân trong cuộc chiến, rất buồn lòng khi bị đánh giá sai sự thật. 

Hôm nay, giờ này, khi tôi đang viết những dòng chữ nầy thì có nhiều người đã ra đi, có nhiều người ở lại quê nhà, và cũng có nhiều người đang chịu trăm cay nghìn đắng trong khắp bốn phương trời ở xứ người.
Trong lúc đó những ngưòi bạn cũ cũng như quân thù đã tìm cách bôi nhọ, hay đổ tội cho QLVNCH , để nhằm mục đích tự tôn vinh hay che dấu mặc cảm phản bội đồng minh.
Ba câu hỏi của tôi không được trả lời thì bây giờ tôi cũng xin được nói lên để mọi người cùng biết:
1. Khi Đà Nẵng đang cơn hấp hối, tôi đã theo sát Tư Lệnh Quân Đoàn I cho đến ngày ra khỏi nước.
2. Tương quan lực lượng đôi bên.
2a. Lực lượng quân đội Cộng Sản: 
Những lực lượng Tiền Phương Cộng Sản đang bao vây Đà Nẵng gồm :
- Các Sư đoàn 324B, Sư Đoàn 325,
- Một Trung đoàn chiến xa,
- Hai Trung Đoàn Pháo làm nỗ lực chính. 
Tất cả theo Elephant Valley tấn công phía Bắc Đà Nẵng. 
-Một nỗ lực thứ hai là Sư Đoàn 711 cùng Mặt trận 44 tiến chiếm khu Kỹ Nghệ An Hòa (quận Đức Dục) và quận Đại Lộc rồi tiến về phía Nam Đà Nẵng.
Thành phố coi như nằm giữa hai gọng kềm của địch. 
Tôi nhớ một phái đoàn dân chính gồm có các đại diện dân cử, đảng phái và thân hào nhân sĩ khoảng 10 người, trong số nầy tôi biết dân biểu Phước (cựu HS Phan Chu Trinh và chúng tôi thường gọi là Phước Lít), Giáo sư Trần ngọc Quế( giáo sư trường Phan chu Trinh và là một thành viên cuả một đoàn thể chính trị), họ đến để yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn có biện  pháp quân sự để Đà Nẵng không nằm chịu trận địa pháo như lòng chảo Điện Biên Phủ. 
Những đơn vị địch ở phía bắc đèo Hải Vân như 
- Các Sư Đoàn 304, SĐ 308, SĐ 320 B và SĐ 312 đang ở đâu? Có phải chúng đang ở sau lưng những nổ lưc chính không?
Đó là chưa kể những đơn vị địch ở Quân Khu II dồn lên vì QĐ II đã mất trước rồi.

2b. Lực lượng phía QĐVNCH gồm có:
- Sư Đoàn 3/BB, Sư Đoàn /TQLC trừ (vì Lữ Đoàn 147 xem như đã xoá sổ ở phía bắc đèo Hải Vân). 
- Không Quân thì tất cả máy bay phải xuôi nam theo lệnh Bộ Tổng Tham Mưu.
- Pháo binh còn vài khẩu. 
- Hải Quân chỉ có khả năng vận chuyển hạn chế.
- Sư Đoàn Dù thì đã hoàn toàn rút về Nam. 
Quân thất trận đi tìm gia đình, dân lánh nạn từ phía Bắc và phiá Nam đổ về Đà Nẵng, khoảng 1.5 triệu người. Bình thường Đà Nẵng chỉ có khoảng 300,000 dân. Người đi đứng chật đường không thể chen chân được; dĩ nhiên trong số hổn loạn nầy có cả đặc công cùng tiền sát viên pháo binh Cộng Sản..
Đến đây thì Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng cùng quí độc giả đã thấy được quân số tham chiến đôi bên.
Sơ lược những biến cố cuối cùng tại Huế và Đà Nẵng: 
- Đêm 25 tháng 3, 1975 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh các lực lượng ở Huế rút về ĐN.
- Ngày 26 tháng 3 Trung Tướng Trưởng và tôi bay trực thăng dọc theo bờ biển và tôi thấy tận mắt quân dân bồng bế, gánh gồng dẫn dắt nhau di  chuyển về phía Nam. Đi đầu là ĐPQ/NQ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Kế đến là SĐ 1 rồi đến TQLC. Dân chúng thì chạy lẫn lộn trong đoàn quân và phiá sau. Đa số trong số họ là gia đình quân nhân. Trông thảm thương như cảnh Lưu Bị dắt dân Tân Dã chạy về Diễn Châu trong chuyện Tam Quốc Chí. 
Trung Tướng Trưởng muốn tôi lên tầng số để Trung Tướng nói chuyện với Đại Tá Lương, Lữ Đoàn Truởng LĐ 147. Về sau tôi được biết qua Trung Tâm hành Quân QĐI là đoàn người đến cửa Tư Hiền thì tan tác vì không qua được cửa Tư Hiền. Hải Quân và Công Binh nhận lãnh công tác đánh đắm một chiếc tàu Hải Quân làm cầu nổi như dự định trong buổi họp trước đó tại BTL/QĐI, nhưng họ đã không thực hiện được 
Thêm nữa đoàn người bị VC tác xạ và mạnh ai nấy chạy. Bộ Binh và ĐPQ/NQ về đến Đà Nẵng được khoảng 1/3; Nhưng số nầy tan hàng trong hổn loạn để lo đi tìm gia đình nên không còn kiểm soát được.
Sư Đoàn 1 coi như bị xoá sổ cùng với ĐPQ/NQ ở phía Bắc đèo Hải Vân.
Trong ngày 26 tháng 3, 1975 Lữ Đoàn 147 TQLC không bốc được nên Lữ Đoàn đã chiến đấu đến khi hết đạn. Một số tự tử và một số bị địch bắt.
Ngày 26 tháng 3, 1975 Huế xem như đã mất.
Tình hình phía Nam đèo Hải Vân cũng bi đát chẳng kém gì Huế. 
Ngày 10 tháng 3 thì hai quận Hậu Đức và Tiên Phước bị tràn ngập bởi Trung Đoàn 52 và Sư Đoàn 711 của VC.
Ngày 24 tháng 3 Tiểu Khu Quảng Tín rút chạy về Đà Nẵng, và cũng ngày nầy Tiểu khu Quảng Ngãi rút về Chu Lai. 
Ngày 26 tháng 3 Sư Đoàn 2 rút ra Cú Lao Ré. Thành phố Đà Nẵng lên cơn sốt hổn loạn. Cướp bóc đã xảy ra tại kho gạo gần thương cảng.
Sáng ngày 28 tháng 3 Tư Lệnh Quân Đoàn cho triệu tập các cấp chỉ huy để tìm biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị cho những đơn vị có mặt trong thành phố. Nhưng kế hoạch không thi hành được vì không đủ quân số tác chiến, và hầu như một số lớn sĩ quan đã bỏ phòng sở để đi lo chuyện gia đình. Tôi thấy chỉ có văn phòng Tư Lệnh còn làm việc còn tất cả phòng ban trong bộ tư lệnh hầu như ngừng lại hết. 
Vào khoảng 2 chiều ngày ngày 28 tháng 3 Tiểu khu Quảng Nam xem như mất liên lạc. Trung Tướng Trưởng và Tôi chỉ bay đến chi khu Hoà Vang rồi phải trở lại BTL/QĐ. Chi Khu Hòa Vang ở sát phi trường Đà Nẵng. Như vậy QĐI chỉ còn lại Thành Phố Đà Nẵng và Phi Trường chưa bị VC chiếm mà thôi.
Lực lượng đáng kể để phòng thủ Đà Nẵng chỉ còn Sư Đoàn 3 và 3 Lữ Đoàn TQLC mà thôi
Trong suốt những tháng ngày ở Mỹ, Trung Tướng Trưởng vẫn thường gặp và đặt giả thuyết với các cấp chỉ huy thuộc quyền rằng nếu khi ấy chúng ta tử thủ Đà Nẵng thì chúng ta có giữ được không? Và việc gì sẽ xãy ra.? 
Bây giờ tôi xin chuyển câu hỏi nầy lại cho quí độc giả.

Đến đây tôi cũng xin nhắc đến Sư Đoàn 3. 
Sư Đoàn được thành lập với chủ lực là Trung Đoàn 2 cuả SĐ1 BB cùng với quân nhân đủ mọi thành phần: quân nhân văn phòng, quân phạm, hay bị trù dập và bị tống ra Sư Đoàn 3, và Sư Đoàn nầy ra trấn ải địa đầu giời tuyến. Sư Đoàn bị mang tiếng “chạy làng” khi VC ồ ạt tràn quavùng giới tuyến phi quân sự, để tấn công quân ta . Ai giỏi hơn ai để không “chạy làng”? 
Khi lực lượng Đồng Minh chưa rút đi, thì lực lượng cuả họ gồm 
- Sư Đoàn 3/ TQLC/ Hoa Kỳ 
- Thêm Trung Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ tăng phái. 
- Sư Đoàn 101 Nhảy Dù/ HK, 
- Lữ Đoàn 5 Cơ Giới.
Một tiểu đoàn cuả họ vừa tăng phái lẫn cơ hữu vào khoản 1,500 quân nhân – bằng quân số một trung đoàn chiến đấu của ta. 

Hoả lực cuả một Sư Đoàn / Hoa Kỳ chấp cả Hoả lực cuả QĐVNCH không địch nổi. Họ có hỏa lực cuả Không, Hải, Lục yểm trợ tối đa. Mất một sư đoàn là rung chuyển cả nước Mỹ. Một sư đoàn chiến đấu nhưng cả 250 triệu người yểm trợ cả phương tiện lẫn tinh thần. Ngày tôi theo Tiểu Đoàn 3/1 TQLC /Hoa Kỳ hành quân ở vùng Quảng Nam thì một hồi chánh viên nói cho biết rằng các đơn vị VC rất sợ đụng trận với Mỹ. Tôi hỏi lại anh ta: vậy chúng tôi, QLVNCH, đánh giặc dở hơn Mỹ phải vậy không thì anh ta trả lời rằng không phải vậy - Chúng tôi ít sợ các anh vì các anh bắn ít hơn nhiều, còn Mỹ thì họ bắn như mưa. Anh xem các cây trong làng, có cây nào không đầy vết đạn chằng chịt. Thế nhưng ngày tôi theo Tiểu Đoàn 2/1 TQLC / Hoa Kỳ, tăng phái cho Sư Đoàn 3 / TQLC / Hoa Kỳ, tại phía nam Cồn Thiên vẫn phải chịu trận pháo kích 61 và 82 ly cuả quân chính qui cộng sản mấy tháng trời. 

Đám quân sinh Bắc tử Nam còn dám tấn công các đơn vị Mỹ ở vùng phi quân sự như ở Cồn Thiên, Khe Sanh huống gì một Sư Đoàn tân lập như Sư Đoàn 3?
Những ngày cuối cùng cuả Đà Nẵng nếu không có Sư Đoàn 3, thì Sư Đòan / TQLC / VN không rút xuống tàu được. Sư Đoàn 3 đã bị hi sinh ngăn chận địch và không có kế hoạch bốc Sư Đoàn 3.
Tổng Thống Thiệu đã đặt câu hỏi cho Trung Tướng Trưởng là nếu rút, thì rút được bao nhiêu quân? . Ưu tiên vẫn là rút Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn /TQLC để có lực lượng làm hơi thở cuối cùng cuả VNCH.
Lữ Đoàn I Dù còn lại sau cùng chỉ được dùng để ứng chiến nhằm nâng cao tinh thần quân dân mà không được phép xử dụng tác chiến. Sư Đoàn / TQLC cũng vậy; phải làm sao rút được về Sài Gòn. 
Khi Tư Lệnh Sư Đoàn 3 về họp lần cuối cùng đêm 28 tháng 3 tại BTL / Hải Quân/ VIDH thì chỉ được biết bất ngờ là phải rút về vùng Horse Shoe gần sông Thu Bồn mà không thấy nói di tản Sư Đoàn 3.
Phương tiện và tình thế chỉ có thể lo cho 2 Sư Đoàn tổng trừ bị mà thôi. Đến đây tôi xin trả lời nghi vấn cuả Đại Tá Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” rằng không có quan Xịa nào khuyên đừng đánh cả. Phiá Việt cũng như Mỹ và kể cả Trung Tướng Trưởng chỉ muốn bảo toàn lực lượng để lo chuyện khác về sau, và khả năng chỉ có thể lo cho hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị mà thôi. Sư Đoàn 3 đã bị làm con chốt thí.
Trong quân sử chiến tranh Cao Ly: khi chí nguyện quân Cộng Sản Trung Hoa ồ ạt tấn công thì quân Mỹ và Nam Hàn phải rút về phiá Nam. Sư Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ phải làm nút chận cho quân bạn rút lui . Sư Đoàn nầy đã chiến đấu oanh liệt; nhưng họ phải trả một giá quá đắt: hơn 800 Sĩ Quan và nhiều ngàn binh sĩ hi sinh sau khi họ tự giải cứu và rút sau cùng. 
Sư Đoàn 3 cuả chúng ta không làm được như vậy, không có quân bạn gíúp đở, để dựa lưng, trưóc mặt là địch, sau lưng là bạn. Sư Đoàn đã phải tứ bề thọ địch. 
Hơn nữa chính phủ và nhân dân cuả Sư Đoàn 1 / TQLC / Hoa Kỳ không bỏ rơi họ, trong khi các bạn (Sư Đoàn 3) hoàn toàn bị bỏ rơi. Các bạn ( Sư Đoàn 3) đã chiến đấu oanh liệt trong một hoàn cảnh nghiệt ngã. Xin đứng nghiêm kính chào các chiến hữu Sư Đoàn 3 đã nằm xuồng, hoặc đang quằn quoại đau thương tại quê hương Quảng Đà.

Giờ phút cuối cùng tại Đà Nẵng: 
"GIỜ NÀY DCT/72 LÙNG BÙNG TRÁNH PHÁO VC TRONG CẦU TẦU CỦA BẾN CẢNG TIÊN SHA"sáng sớm ngày 29 thang3/75"

Sáng sớm ngày 29 tháng 3, năm 1975 chúng tôi tiến ra bờ biển để lội lên tàu. Ngoài TQLC ra, tôi đếm BB có khoảng 13 người: Tr/T Trưởng, Tôi , Đại Tá Duệ (Tỉnh trưởng Thưà Thiên), Đại Tá Kỳ (Tỉnh Trưởng Quảng Trị), Trung Tá Tuân (Phòng 3 QĐI) và mấy người nữa tôi không nhớ tên. 

Tôi đi lòng vòng để tìm một cái phao cho TR/T Trưởng nhưng không tìm được. Các phi cơ trực thăng và Chinooks đang tiếp nhiên liệu bằng cái mũ sắt. Họ phá hai chiềc để lấy nhiên liệu đổ vào một chiếc. Đi đến đâu thì những người trên phi cơ cũng đều chĩa súng vào tôi. 
Tôi gặp thiếu tá Hiếu, người trước đây từng lái trực thăng cho Tr/T Trưởng, và ông la to,
” Đừng bắn nó, nó là bạn tao,” 
Ông hỏi: “ Mầy có đi thì lên đi với tao.”
“Không,” tôi trả lời”
Thiếu tá có cái phao nào cho tôi một cái cho Tr/T Trưởng.” 
“ không, tao không có.
Mầy có đi không?” Ông lại hỏi
” Không, tôi còn phải lo cho Tr/T Trưởng ” tôi trả lời. 
Ông chúc tôi may măn và tôi cũng chúc lại ông may mắn. 
Tôi trở lại tìm TR/T Trưởng thì thấy Thiếu Tá Phương (TQLC) đã nhường cái phao mang cho Tr/T Trưởng mặc dù Th/T Phương không biết lội. Đại Tá Trí kẹp Tr/T trưởng một bên, một bên thì Th/T Phương kẹp. Tôi vớ một khúc gỗ cuả một cái bunker cũ để làm cái phao. Một tay tôi nắm thắt lưng TR/T Trưởng để đẩy ông, một tay ôm khúc gỗ và cả ba chúng tôi dìu ông lội ra tàu.
Biển động, sóng lớn, không có cầu tàu. Nhiều lúc sóng phủ tôi bị chìm lĩm. Chúng tôi lội đến vừa lút đầu thì lên được tàu. 
Sau khi lên đến nơi thì TR/T Truởng mê sảng và tôi cũng ngất đi một khoảng thời gian dài vì một phần đói, một phần uống nhiều nước mặn khi sóng phủ, một phần vì quá mệt. 
Theo Trung Uý Bình, Hạm Phó LST 404, thì Tr/T Trưởng đã nói trong lúc mê sảng:
”Bây giờ Tổng Thống biểu tôi phải làm gì?”
“Làm như vậy thì làm sao tôi nói với các Tướng dưới quyền tôi được.”
Khi tàu đang lênh đênh ngoài khơi Đà Nẵng thì chúng tôi nhận được lệnh Tổng Thống Thiệu phải tái chiếm ĐN.
“Bây giờ tôi đi với ai và lấy gì để tái chiếm.” 
Tr/T Trưởng nói một mình và ông ra lịnh cho HạmTrưởng đưa ông và TQLC xuôi Nam. 
Trên đường xuôi Nam, tôi và Chuẩn Tướng Khánh , mỗi bữa hai người chia nhau nửa muỗng cơm và nữa muỗng nước của anh em hải quân nhịn miệng để dành cho. Chúng tôi không có thực phẩm và nước uống. Theo anh em HQ cho biết tàu vừa xong công tác và trên đường về bến thì nhận được lệnh quay trở ra Đà Nẵng vận chuyển QĐ I nên không có tái tiếp tế
Về đến Saì Gòn thì Tr/T Trưởng đã kiệt lực nên được đưa vào Tổng Y Viện Cộng Hoà. Vài ngày sau ông tỉnh táo lại và đã khóc khi tôi đứng bên  giường bệnh cuả ông, và ông đã than thở rằng: “Nhờ trời giúp tôi với Hòa mới vào được tới đây.”

Còn nhiều chi tiết nhưng bài báo giới hạn. Một ngày nào thuân tiện tôi sẽ viết nhiều hơn. Trước khi tạm chấm dứt bài nầy tôi xin thưa rằng trong sách “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” cuả Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng vừa mới phát hành có đề cập đến Sư Đoàn 1 tự động tan hàng ở Huế là không đúng. Đối với Tr/T Trưởng một đôi khi một đaị đội BB do một Thiếu Úy chỉ huy đang chạm địch ông cũng đáp xuống xem xét và tôi đã toát mồ hôi hột vì sợ không bảo vệ được ông. Chuyện một đại đơn vị cấp Sư Đoàn tự động giải tán mà Tr/Tướng Trưởng không biết, thì không thể nào có thể xảy ra được. Chuyện lệnh lạc tiền hậu bất nhất cuả Tổng Thống Thiệu thì có và đúng “solid 100%”. Tôi còn vài tài liệu để chứng minh điều này.

Ngày tháng qua đi, qua đi…Mọi sự rồi cũng chẳng còn gì cả. Tổng Thống Thiệu đã ra đi, Đại Tướng Viên đã ra đi, vị tướng tài ba và đức độ Tr/T Ngô Quang Trưởng ngày nào của lòng tôi kính mến cũng đã ra người thiên cổ. Các niên trưởng cuả tôi như Chuẩn Tướng Khánh, Đ/T Duệ, Đ/T Phước cũng đã ra đi, và rồi chúng tôi cũng sẽ mờ dần theo năm tháng…Nếu có còn chăng là đôi dòng lịch sử vây xin tôn trọng “sử xanh” và đừng bẻ cong ngòi bút vì bất cứ lý do nào.
Biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết.” Nếu dẫn chứng cho lập luận cuả mình thì xin nêu rõ xuất xứ (foot notes). Xin đừng nói rằng nghe người nầy, người kia nói, là vô căn cớ.
Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã làm buồn lòng những người đã ra đi và những kẻ còn ở lại. Chúng tôi đã từ bỏ tất cả kể cả gia đình thân yêu để làm hết sức mình cho tổ quốc, cho quân đội và cho lý tưởng.
Quân đội nào cũng có một vài cấp chỉ huy hèn mọn, khi địch chưa đến đã bỏ chạy. Quân Đoàn I cũng không ra ngoài cái thông lệ tầm thường đó; nhưng không phải tất cả cấp chỉ huy đều hèn nhát bỏ chạy về đến Sài Gòn trong lúc còn 100,000 quân còn ở lại chiến đấu tại Đà Nẵng.
Tôi là một cá nhân nhỏ bé tầm thường nhưng may mắn còn sống sót sau biến cố 1975. Ở một góc độ nhỏ bé nào đó tôi đã thấy, đã nghe và đã chịu đựng những điều đã xảy ra vì vậy tôi phải nói cho những người không còn nói được nữa, hay họ không bao giờ muốn nói.


Hà Lam

Wednesday, August 6, 2014

Đại hội Kỳ 8 trường Phan Thanh Giản - Thu Phong

ĐẠI HỘI KỲ 8
(Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Trường)
Từ San Jose California, tôi bay xuống Orange County để tham dự Đại Hội kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng, tên của ngôi trường mến yêu mà suốt những năm Trung học tôi đã có thật nhiều kỷ niệm với thầy, cô giáo và bạn bè. 

Thời gian dài đăng đẵng hơn 40 năm kể từ thuở học trò cho đến nay trong tôi vẫn còn những háo hức được gặp lại những thầy cô giáo và bạn bè xưa, những khuôn mặt thân quen của những ngày tháng cũ... 

Gặp nhau trong công viên muộn màng do chuyến bay đến trễ, một số anh chị em đã lần lượt ra về, tôi vội vã dạo quanh sân dưới những tàng cây râm mát để chào hỏi bạn bè. Tôi gặp anh Dũng, con chim đầu đàn và là cố vấn của Ban tổ chức, có vợ chồng cô Ái Cầm, Hoàng Vân, Thanh Nhạn, Kiều Xuyên anh Thái, Lữ Kim Liên, Bích Liên, Đỗ Xuân Quý và nhiều anh chị em khác...ai cũng săn đón hỏi han thân tình. Nơi đây tôi đã nhận được tập Đặc San dày cộm với rất nhiều bài vở, trong đó có một truyện ngắn và một bài thơ của mình, thật hoan hỷ!

Cám ơn Ban Tổ Chức và Ban Biên Tập. 

60 năm một đời người! 60 năm của ngôi trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Nơi đã đào tạo ra biết bao nhiêu tầng lớp học sinh nên người, nơi đã trang bị cho hầu hết học sinh một số vốn kiến thức khả dĩ để từ đó vươn lên và mang theo làm hành trang cho đời mình dù đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống. Cũng từ đó chúng ta nhận thức được công lao khó nhọc của nhũng thầy, cô giáo cũ là điều không bao giờ chối bỏ được mà mãi mãi là một sự biết ơn từ sâu thẳm trong tâm khảm mọi người, những cựu học sinh mà hầu hết còn giữ được tinh thần "Tôn Sư Trọng Đạo".

Hình ảnh trường Trung Học Phan Thanh Giản Đà Nẵng đã sống mãi trong tôi như một "Trường làng tôi" êm đềm! Vì nơi đó tôi đã có một thời e-ấp của "Tuổi mười lăm gấp sách lại đứng nghe..." với một vùng trời đầy kỷ - niệm. 

Mấy mươi năm xa trường, xa quê hương yêu dấu... mỗi lần có dịp về thăm nhà, tôi không khỏi bàng hoàng khi dừng xe đứng trước cổng trường xưa để ngậm ngùi tiếc thương một thời đã mất! Có một buổi chiều Xuân tôi nhặt được cành đào trước cổng trường P.T.G,về nhà thức suốt đêm làm nên bài thơ "Tình Tự Mùa Xuân" để tưởng nhớ đến người xưa...trong sân trường cũ!

Chiều Chủ Nhật 15/6 Đại Hội được chính thức tổ chức tại nhà hàng Seafood Place, Ban Tổ Chức đã mời gọi được số đông cựu học sinh và thân hữu tham dự (gần 300 người).Với sự sắp xếp khéo léo của Ban Tổ Chức, khung cảnh nhà hàng được trang trí đẹp mắt và thanh lịch, nhất là không khí thân vui khi mọi người ai cũng ăn mặc tươm tất, gặp nhau tay bắt mặt mừng trong giây phút trùng phùng hội ngộ, nhất là những anh chị em đến từ những nơi xa xôi ngoài California như Seattle, Washington, Oregon, Florida, Texas,Arizona, Arkansas, New Jersey, Georgia, Canada và hai bạn từ Việt Nam sang!

Bạn cũ gặp lại để nhắc nhớ đến trường xưa, nơi mà ai cũng đã trải qua một thời "cơm cha, áo mẹ, công thầy". Chiếc band roll với hàng chữ lớn được treo cao trên sân khấu: ĐẠI HỘI KỲ 8-PHAN THANH GIẢN ĐÀ NẴNG-HẢI NGOẠI, như một biểu tượng hồn nhiên nhắc nhớ tuổi học trò!

Các cô trong Ban Tổ Chức mặc áo dài đồng phục màu đỏ sang & đẹp, các anh vét- tông và cà vạt cùng màu đỏ làm cho sân khấu rực rỡ hẳn lên.

Đại Hội được bắt đầu bởi nghi lễ chào Quốc Kỳ & Quốc ca V.N.C.H, và một phút mặc niệm... tất cả đều được thực thi trong "điều kiện ắt có và đủ"(tôi lại nhớ câu nói của thầy Thông dạy Toán!).

Sau phần nghi lễ cô Ái Cầm, trưởng Ban Tổ Chức đã đọc diễn văn đầy cảm xúc để chào mừng Đại Hội. Và tiếp theo là lời phát biểu của anh Võ Anh Dũng, một cựu giáo sư của trường, chân thật, giản dị không kém phần thân mật, cũng như ý kiến của thầy Trần Ngọc Tôn hân hoan được tham dự và nhìn thấy sự đoàn kết, thân thương của những cựu học sinh Phan Thanh Giản đã là học sinh của thầy. 

Sau đó là lời cám ơn của Ban Tổ Chức gởi đến quý thầy cô hiện diện trong buổi tiệc hay ở những nơi xa xôi không đến tham dự được. Những gói quà tri-ân và những bó hoa cũng được trao tặng đến quý thầy cô giáo, một cách thân tình và trang trọng.

Buổi dạ tiệc bắt đầu khi nhà hàng phục vụ từng bàn những món ăn ngon, và bia rượu...Ban Văn nghệ "cây nhà lá vườn" của nhóm cựu học sinh Phan Thanh Giản với tài năng nửa vời, nhưng cũng rất tuyệt vời... khi biểu diễn những màn vũ áo trắng học trò dễ thương, xinh xinh và nhí nhảnh...,vở hài kịch Giờ Việt Văn (cô giáo và học trò) của 3 cô IBM đã làm cho khán giả cười vui vô tư như thời còn cắp sách! 

Ban nhạc "one man band" với tay đàn Organ điêu luyện của Khánh Văn đã làm cho buổi dạ tiệc và dạ vũ vô cùng sôi động và quyến rũ. Tôi được Ban Tổ Chức sắp xếp cho lên sân khấu hát đơn ca vào mục thứ 5 trong chương trình, sau Tường Vi. Tôi hát thênh thang một nhạc phẩm tàng trữ những tâm tình êm dịu của Từ Công Phụng: "Bây giờ tháng mấy rồi hỡi anh, lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm..." Tôi đã thả hồn bay về dĩ vãng xa xăm với mây trôi bềnh bồng trên khung trời Phan Thanh Giản cũ, hay thành phố Đà Nẵng mến yêu của thuở nào...
Chương trình Văn Nghệ của Đại Hội thật súc tích với nhiều giọng ca ngọt ngào,trầm ấm... Anh Dũng và Đình Huy song ca nhạc phẩm "Mời Em Về"của Việt Dzũng như một nhắc nhớ & tri ân người ca nhạc sĩ đa tài và giàu lòng nhân ái đã ra đi... Bích Ngọc, giọng oanh vàng của Ban Văn nghệ, có lúc đã khiến lòng tôi chùng xuống khi lắng nghe cô trình bày nhạc phẩm Ngăn-Cách..." Đêm chia ly lạnh lùng đưa tay một lần đến mai không còn..." Ái Cầm nhường anh chị em hát trước, cô thảnh thơi trình bày bài ca mượt mà như lòng cô trang trải.. "Về đây nghe em, về đây mặc áo the đi guốc mộc, kể chuyện tình bằng lời ca dao..." và một số đông anh chị em hát thật hay, thật trang nhã... 

Tôi rời bàn ăn để qua vài bàn bên cạnh thăm hỏi bạn bè, tôi dừng lại trước mấy cặp vợ chồng thân quen, tôi tằng hắng giả giọng thầy Hồ Quý dạy Pháp văn năm nào...: "Bonjour mes amis, comment a lez - vous?!" Các bạn tôi cười vui, tôi ngập-ngừng nói tiếp với anh ngồi đầu bàn: "Si vous plait dancing avec moi?!" (nếu anh vui lòng hãy khiêu vũ với em!). Anh vui vẻ đứng dậy và chúng tôi ra sàn nhảy, anh dìu tôi lướt nhẹ trên mặt sàn trong nhạc điệu Boston vương giả... Sau đó Khánh Văn đổi tông qua chơi nhạc trội, nhạc giựt Disco rồi Twist... các cô thi nhau lên hát tam ca, rồi tứ ca...Anh chị em đua nhau ra sàn nhảy để"quậy"... Quậy vui tươi, quậy tưng bừng, và quậy tới bến!
"Cứ vui trọn đêm nay rồi mai sẽ hay". Mà vui thật! Nhưng... ...

"Lời từ ly êm-ái để đâu không nói đêm này!"
 (Ngăn Cách). 

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, bèo hợp để rồi tan... Mọi người chia tay nhau trong luyến tiếc, với niềm ước mong sẽ còn nhiều dịp hội ngộ sau này dưới mái nhà Phan Thanh Giản thân thương, với lời chúc nhau bình an như trong nhạc phẩm "Đường Cũ Ta Về"(VAD)

Riêng tôi cũng xin mạo muội mượn trang tùy bút nầy để kính gửi đến quý thầy cô ở hải ngoại cũng như trong nước, các anh chị em và bằng hữu lời cầu chúc cho mọi người được dồi dào sức khỏe, và sống an vui mãi mãi theo với tháng rộng năm dài. 

Tôi cũng không quên gởi lời cám ơn chân thành đến anh Võ Anh Dũng (tôi xin phép được gọi anh bằng anh vì tôi là bạn học cùng lớp với Tuyền, em của anh), cám ơn anh Thái Tú Hạp & Ái Cầm cùng anh chị em trong Ban Tổ Chức đã bỏ nhiều thời giờ và công sức ra làm nên Đại Hội Kỳ 8 thành công tốt đẹp. 

Tôi đã đáp chuyến bay trưa ngày Thứ Hai (16/6) để về lại vùng Thung lũng hoa vàng (silicon valley). Suốt chuyến đi 3 ngày dự Đại Hội, tâm tư tôi đã sống trọn vẹn cho ngôi trường Phan Thanh Giản và bạn bè xưa...

Khi máy bay hạ cánh xuống San Jose Airport giữa nắng chiều rực rỡ của mùa hè Cali, tôi bỗng dưng bàng hoàng nhớ tiếc...Ngôi trường cũ, thầy và bạn, cây phượng vỹ đỏ thắm trước cổng trường đã biết bao lần nở xôn-xao trong tôi qua từng mùa nắng Hạ...


Lê Thu Phong


San Jose, June 21-2014. 

Tuesday, August 5, 2014

Nghệ thuật điêu khắc tre Việt Nam - Bạch Liên Trương

Vietnamese Bamboo Sculptures
***



VIDEO


1/. Nghệ nhân điêu khắc tre Lê Mưu.
 
Lão Mưu tỉ mỉ săn tìm từng gốc tre có bóng dáng hình đầu rồng.
 
 
2/. Nghệ nhân điêu khắc tre Huỳnh Phương Đỏ (Hội An).

Anh Đỏ bên các tác phẩm bằng gốc tre.
 
Báo chí Rumani mới có bài viết về vẻ đẹp cuốn hút, độc đáo của những tác phẩm điêu khắc trên gốc, rễ cây tre của nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ (Hội An). Ông bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật của mình hoàn toàn tình cờ. Huỳnh Phương Đỏ đã làm công việc chạm khắc gỗ từ năm 15 tuổi. Nhưng do sống ở Hội An – mảnh đất nổi tiếng được gọi là Làng Tre của Việt Nam, ông đã gặp khó khăn bởi nơi đây có hàng chục thợ thủ công và nghệ nhân điêu khắc tài năng khác.
 
Nhưng mọi chuyện đã thay đổi vào một ngày, cách đây khoảng 7 năm, trận lũ lụt ở thượng nguồn sông Thu Bồn đã cuốn rất nhiều gốc tre trôi dạt vào bờ sông trước cửa nhà ông. Khi nhìn thấy chúng, ông lóe lên ý tưởng tạo nên những tác phẩm điêu khắc từ những gốc tre trên. Nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ không hề biết đó là những "viên gạch" đầu tiên đặt móng cho sự nghiệp nghệ thuật thành công vang dội sau này của ông.  Nhìn những gốc tre có vẻ ngồ ngộ, vốn là thợ điêu khắc gỗ, theo học nghề trong làng mộc Kim Bồng từ năm 15 tuổi, anh Đỏ dễ dàng với những nét đục đẽo đơn sơ, biến những gốc tre bỏ đi ấy thành các tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Một trong số những tác phẩm điêu khắc tre tuyệt đẹp của nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ được báo chí Rumani khen ngợi.
 
Đến thăm nơi sản xuất và trưng bày các tác phẩm điêu khắc từ gỗ, gốc tre của anh Huỳnh Phương Đỏ, 39 tuổi, ở số 26 đường Bạch Đằng, TP Hội An (Quảng Nam), mới thấy hết những nét tinh tế, hài hòa giữa “rễ” và “râu”… trên từng bức tượng bằng gốc tre rất có hồn. Hình như “tượng tre” biết nói, biết cười, biết cả suy tư!
 


Hiện, nghệ nhân điêu khắc tre tài năng này đã có một phòng trưng bày những tác phẩm điêu khắc tâm huyết của mình. Du khách có thể nhìn thấy những “đứa con tinh thần” của ông ở hơn 20 cửa hàng lưu niệm khắp phố cổ Hội An.
 
Ông dành toàn bộ thời gian của mình để tìm cách tạo ra những tác phẩm chân thực nhất trong hình dáng của con con người và dốc sức làm từ 200-300 tác phẩm điêu khắc mỗi tháng để đáp ứng nhu cầu rất lớn của khách du lịch.
 
Những ngày gần đây, những gốc, rễ tre không trôi dạt theo sông đến trước cửa nhà nữa. Vì vây, ông phải “săn lùng” chúng trong các khu rừng gần đó. Nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ thường xuyên sử dụng máy ủi và máy xúc để lấy những gốc tre từ dưới đất lên. Sau đó, ông rửa sạch và phơi khô chúng trước khi bắt đầu quá trình điêu khắc, tạo hồn cho tác phẩm.
 
Nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ chạm khắc khuôn mặt của các vị thần.
 
Tuy nhiên anh Đỏ cũng phải khắc phục nhiều hạn chế với các nghệ nhân cao tuổi ở ngôi làng điêu khắc gỗ nổi tiếng Kim Bồng, Việt Nam trong nhiều năm liền.

Mỗi gốc tre dưới bàn tay tài hoa của anh đều trở thành một tác phẩm không bao giờ “đụng hàng". Tài tình hơn, nghệ nhân đã dùng rễ cây tre làm râu, lông mày và tóc cho kiệt tác của mình, khiến chúng thêm phần sống động, chân thực. 
 
Anh Đỏ cho hay, khi mang gốc tre về nhà, anh cẩn thận lấy đất trong các gốc bằng cách dùng máy bơm nước loại thật mạnh để xịt vào từng “ngõ ngách”, như vậy phần rễ sẽ không bị hư hỏng. Sau đó dùng cưa, đục tách ra từng gốc, rửa sạch sẽ. Lúc rảnh rỗi, ngắm nghía, cân nhắc gốc này có rễ dài nên khắc ông nào, gốc kia có rễ ngắn nên khắc ông nào… Nhiều tác phẩm không chỉ làm râu mà còn làm lông mày, tóc nữa.
 
Mỗi ngày cơ sở của anh sản xuất được chừng 10 tác phẩm tượng gốc tre. Hiện nay, ở Hội An, cơ sở của anh sản xuất 80% tác phẩm từ gốc tre. Chỉ riêng ở thành phố Hội An có khoảng 20 điểm và thành phố Đà Nẵng có 2 điểm nhận làm đại lý bán tượng gốc tre của anh cho du khách. Trung bình mỗi tháng, anh bán từ 300 đến 400 tượng gốc tre. Giá cả còn tùy thuộc vào độ tinh xảo của từng tác phẩm, trung bình từ 150.000 đồng đến 250.000 đồng /sản phẩm.
 
Một tác phẩm của nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ.
 
“Kho tàng nghệ thuật dân gian” của anh Đỏ đã lên đến 200 tác phẩm tượng gốc tre. Đó là các tác phẩm như: Chư vị thập bát La Hán, Quan Vân Trường, Trương Phi, Phước Lộc Thọ, Đạt Ma tổ sư, Hải Thượng Lãn ông, Bùi Giáng… với những kiểu dáng khác nhau.  Anh còn có thể chạm trổ hình dáng khuôn mặt của khách hàng lên rễ, gốc tre. Đây là một trong những kỹ năng đặc biệt của anh nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của họ.
 
Những năm qua, anh đã dạy nghề miễn phí cho khoảng 70 thanh niên. Đã không thu tiền “truyền thụ” mà anh Đỏ còn hỗ trợ cho mỗi người mỗi tháng khoảng 2, 5 triệu đồng/ tháng để thuận lợi trong việc học nghề.