TÌNH EM XỨ QUẢNG

Saturday, April 19, 2014

Nông dân Cẩm Thanh, cẩm Châu Hội An nuôi trâu phục vụ Khách Du Lịch


Nhiều nông dân xã Cẩm Thanh và phường Cẩm Châu, phố cổ Hội An (Quảng Nam) có thêm khoản thu nhập gần trăm triệu đồng một năm nhờ phát triển đàn trâu đáp ứng nhu cầu du lịch cho khách quốc tế.
+
Xuất phát từ nhu cầu du lịch "một ngày làm nông dân" ở phố cổ Hội An, năm 2010, ông Lê Viết Nhiên ở phường Cẩm Châu đầu tư phát triển đàn trâu lên đến 12 con vừa phục vụ sản xuất nông nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu trải nghiệm đồng quê cho du khách nước ngoài. "Nhờ nuôi trâu làm du lịch, gia đình tôi có thêm khoản thu nhập khoảng 80 triệu đồng mỗi năm. Khách du lịch đến Hội An muốn trải nghiệm tour này ngày càng đông nên hiện có 5 hộ dân ở phường của tôi nuôi trâu (mỗi hộ nuôi trung bình 5 con) để làm du lịch", ông Nhiên nói. 
18-4-Anh-2-Nuoi-trau-lam-du-li-4015-3977
Ông Phạm Hò ở thôn 3, xã Cẩm Thanh, TP Hội An nuôi 3 con trâu làm du lịch. "Đây là năm thứ 3 gia đình tôi nuôi trâu làm du lịch. Nghề này cho thu nhập cao gấp 20 lần so với trồng lúa tại địa phương, lại khá nhàn hạ. Vào mùa hè, khách du lịch đông, có ngày đưa 5 đoàn khách đi tham quan đồng lúa, về làng rau Trà Quế vùng ven phố cổ Hội An, hướng dẫn họ cày, bừa, gieo sạ, gặt lúa..., cưỡi trâu chụp ảnh lưu niệm. Trung bình mỗi tháng gia đình tôi có thu nhập ít nhất 7 triệu đồng nhờ nuôi trâu làm du lịch", ông Hò kể.  
18-4-Anh-3-Nuoi-trau-lam-du-li-1664-9688
Nắm bắt được nhu cầu của du khách thích trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa lúa nước Việt Nam, năm 2010, anh Trần Văn Khoa, Giám đốc Công ty Lữ hành Khoa Trần Hội An ECOTOUR đã đầu tư 340 triệu đồng đầu tư xe trâu bằng tre, cùng một số trạm nghỉ chân dân dã ở xã Cẩm Thanh; hỗ trợ, khuyến khích bà con nông dân nuôi trâu làm du lịch phát triển kinh tế gia đình. 
18-4-Anh-4-Nuoi-trau-lam-du-li-2729-5863
Sau 4 năm mở tour du lịch trải nghiệm đồng quê, anh Khoa không chỉ góp phần quảng bá bức tranh nông thôn Việt Nam thanh bình đến với bạn bè quốc tế, mà còn tạo thêm nguồn thu nhập đáng kể cho bà con nông dân ở phố cổ Hội An. 
18-4-Anh-5-Nuoi-trau-lam-du-li-2921-4597
Hiện tại mỗi ngày đơn vị lữ hành này tổ chức tour trải nghiệm đồng quê cho du khách khoảng 3 giờ vào hai buổi, sáng xuất phát từ lúc 7h30, chiều lúc 15h. Theo anh Khoa, một khi đồng quê không còn đồng ruộng, trâu, bò thì miền quê ấy chỉ tồn tại phần xác mà không còn hồn nữa.  
18-4-Anh-6-Nuoi-trau-lam-du-li-7712-6536
Những đứa trẻ đến từ Australia thích thú ngồi trên lưng trâu tham quan cánh đồng lúa ở xã Cẩm Thanh, TP Hội An. Ông Mick Ryan, du khách Australia nhận xét: " Tour trải nghiệm đồng quê ở đây thật tuyệt vời. Còn gì thú vị hơn khi được ngồi trên xe trâu thư thả trên đường làng ngắm nhìn đồng lúa đang chín vàng dưới tiết trời nắng đẹp. Đồng quê và người dân của đất nước các bạn thật gần gũi, thân thiện tạo cảm giác thanh bình cho du khách". 
18-4-Anh-7-Nuoi-trau-lam-du-li-9320-1856
Du khách say sưa chụp ảnh lưu niệm cho người thân ngồi trên lưng trâu tham quan đồng quê vùng ven phố cổ Hội An. 
18-4-Anh-9-Nuoi-trau-lam-du-li-9300-4200
Không chỉ ngồi trên xe trâu ngắm đồng lúa yên bình, nhiều du khách còn thích thú "vào vai" nông dân bì bõm trong bùn lầy cày ruộng. 
18-4-Anh-9-Nuoi-trau-lam-du-li-8886-8432
Một em bé người Australia thích thú cầm đuôi trâu bừa ruộng trên cánh đồng ở xã Cẩm Thanh. " Tôi thật sự ấn tượng với tour du lịch trải nghiệm đồng quê với loài trâu ở phố cổ Hội An. Đến với tour du lịch này, chúng tôi phần nào hiểu được văn hóa lúa nước mộc mạc mà độc đáo của Việt Nam. Trở về nước, tôi sẽ giới thiệu câu chuyện thú vị này với người thân, bạn bè",  bà Jess Stanaway (du khách Australia) chia sẻ.
Trí Tín

Tuesday, April 8, 2014

Tháng Tư - Thơ Quang Huỳnh



Tháng Tư trời đất như ngừng lại,
Đêm tối phủ dày đất nước tôi.
Bắc Nam rợn một màu tang trắng,
Xương máu tràn vương vãi núi đồi.
 
Tháng Tư nước mắt chan hòa máu,
Địa ngục trần gian hiện giữa đời;
Ma quỷ xéo dầy sông núi Việt
Ác đảng lên ngôi hận ngút trời !
 
Tháng Tư mẹ khóc con ly biệt,
Đứa chết vùi thây bờ quê hương;
Đứa còn xơ xác thân tù tội,
Nước mất, nhà tan lắm đoạn trường.
 
Tháng Tư chít vội đầu tang trắng,
Mái tóc thanh xuân của vợ hiền,
Người lính một đi không trở lại,
Máu đào tô sử Viêt thiêng liêng.
 
Tháng Tư máu lệ vùng kinh tế,
Dựng thời đồ đá lại nhân gian.
Cấm chợ, ngăn sông, thiêu sách vở;
Độc ác còn hơn chuyện Thủy Hoàng
 
Tháng Tư đoàn trẻ con ngơ ngác,
Bỏ lớp, bỏ trường lên xứ xa,
Cuốc xẻng cầm tay con lẫn mẹ,
Tháng ngày hiu hắt nhớ mong cha.
 
Tháng tư nước mắt không ngừng chảy
Oán hận dân tôi đã ngút trời;
Năm tháng dần qua đêm vẫn tối,
Lòng người tan tác biết sao vơi !
 
Tháng Tư bầy chó lên bàn độc,
Đem luật rừng xanh áp bức người;      
Súng đạn, còng tay làm kinh điển
Gieo rắt oan khiên, khủng bố đời !
 
Tháng Tư kể mãi không vơi chuyện,
Chẻ trúc Nam sơn viết chẳng cùng;
Biển Thái nghìn năm không gội sạch
Tội ác Cộng nô _ lũ độc trùng !
 
 
         QUANG HUỲNH
            

Monday, April 7, 2014

Câu chuyện ‘Thủy Chung’ của ngưồi vợ lính VNCH - Nguyễn Thuỳ



Xin thuật lại đây câu chuyện người viết được nghe từ lâu về hành động quả cảm của một người lính VNCH có chồng bị Cộng sản bắt đi tù ‘Cải tạo’ tại miền Bắc như sau :
          Vào khoảng năm nào, tôi không còn nhớ rõ (có lẽ 1983 hay 1984 gì đó), lúc còn ở tại VN (Sài-Gòn) , trong một lần đến chơi nhà người bạn thơ Trần Thiện Hiếu (hiện đang ở Sydney – Úc Châu), tôi gặp ông Hà Thượng Nhân  và một người nữa vừa được Cộng sản trả tự do sau thời gian bị tù gọi là ‘bị Học tập cải tạo’. Lúc bấy giờ ông Hà Thượng Nhân chưa biết tôi. Trong buổi hôm đó, tôi được nghe người cùng đi với ông Hà Thượng Nhân kể lại câu chuyện như sau :
          « Có một ông Thiếu Tá bị đưa đi tù tận miền Bắc. Lúc được cho phép gia đình tiếp tế, thăm nuôi, vợ ông Thiếu Tá ra thăm ông, thấy chồng tiều tụy, gầy guộc, ốm o, bệnh hoạn. Năm sau, Bà lại ra thăm nuôi chồng nhưng không được gặp. Bà hỏi thì quản giáo bảo là ‘không biết’. Bà nổi sùng lên bảo : ‘’Chồng tôi năm trước còn ở đây, sao bây giờ, các ông bảo là ‘không biết’ ?Như thế, một là chồng tôi bị chuyển sang một trại khác, hai là chồng tôi đã chết hoặc chồng tôi trốn trại bị bắn chết hay đã thoát rồi, như vậy, các ông phải biết chứ ?’’. Người quản giáo vẫn bảo : ‘’Chồng bà không có ở đây’’. Bà tức giận, lớn tiếng hỏi mãi, cuối cùng, quản giáo nói là ‘’chồng bà chết rồi’’. Bà lại hỏi : ‘’Chồng tôi chết, tại sao chết, chết thì chôn ở đâu ?’’. Do dự mãi, lát sau, quản giáo cho biết mộ chồng bà ở phía sau trại giam. Bà ta lân la hỏi các người tù đang đi lao động, được biết chồng bà bi đau rồi chết và chỉ chỗ chôn. Bà ta tìm đến mộ chồng, giở đồ tiếp tế bày ra, cúng chồng. Ðêm đó, Bà ở lại ngủ bên mộ chồng. Quản giáo ra đuổi bà đi thì Bà nói to lên : ‘’Sao các ông tàn nhẫn, không cho người vợ được ngủ bên mộ chồng mình sao ? Có luật pháp nào cấm việc đó không ?’’. Thấy Bà cương quyết quá, quản giáo đành làm ngơ. Sáng ra, Bà phân phát các thứ tiếp tế cho các bạn tù lao động gần đó rồi bẻ một nhánh cây cắm trước mộ chồng, nhổ một ít tóc treo vào nhánh cây đó. Năm sau, Bà lại lặn lội, đem theo thực phẫm tiếp tế ra thăm chồng lần nữa. Quản giáo bảo :‘’Chồng Bà chết rồi, sao Bà còn thăm nuôi, tiếp tế làm gì nữa ?’’. Bà bảo : ‘’Tôi thương, tôi nhớ chồng tôi, xin các ông cho phép tôi được ngủ bên chồng tôi lần nữa’’.Quản giáo ngạc nhiên, biết ngăn cản cũng khó vì ngại Bà lại lớn lời như trước nên đành chịu. Như lần trước  sáng ra, Bà dựng lại nhánh cây năm trước đã bị ngã xuống đất, cắt một nằm tóc buộc vào (nắm tóc năm trước đã bay đi hết, chỉ còn đôi sợi lẫn vào trong đất) rồi ra về. Năm thứ ba, Bà lại ra thăm nuôi chồng. Quản giáo hỏi : ‘’Ðã hai lần rồi, Bà còn ra thăm nuôi người chết sao ?’’. Bà bảo : ‘’Tôi còn trẻ, lần nầy, tôi ra  xin ngủ với chồng tôi lần thứ ba để ‘đoạn tang’ chồng, như thế cho trọn nghĩa phu thê, tôi mới có thể bước đi bước nữa sau nầy. Xin quản giáo cho cho phép tôi được toại nguyện, đây là lần chót…’’. Quản giáo có lẽ cảm động ít nhiều, đồng ý. Bà lại ra ngủ bên mộ chồng lần thứ ba, thắp nhang, đốt nến. Vào khuya, Bà mở túi xách, lấy một cái xẻng nhỏ cùng túi nylong, đào mộ, hốt ít xương cốt chồng, bỏ vào túi nylong, đổ formol vào rồi mang túi xác chồng lần ra lộ. Bị cán bộ bắt được, quản giáo bảo bà phải bỏ túi nylong đó lại. Bà bảo : ‘’Chồng tôi chết rồi, có gì các ông phải lo ngại. Tôi đem xương cốt chồng tôi về thờ cho trọn nghĩa thủy chung, điều nầy có gây khó khăn gì cho các ông đâu ? Tôi có lấy chồng khác  thì tôi cũng thấy trọn nghĩa với chồng trước và người chồng sau của tôi càng kính trọng tôi thêm’’. Quản giáo nhất định bắt Bà phải để túi nylong xác chồng lại rồi mới cho Bà đi. Bà tức tối, la lớn : ‘’Ðời thưở nhà ai, vợ hốt cốt chồng lại bị ngăn cấm ! Ðươc, tôi gởi túi xác chồng tôi nơi đây, các ông phải giữ kỹ. Tôi sẽ về Hà-Nội, gỏ cửa các quan lớn, hỏi cho ra lẽ. Có phép nào, có luật nào không cho vợ được giữ hài cốt của chồng mình, thờ phụng không ? Chuyện gì xảy ra thì các ông phải chịu trách nhiệm’’. Thấy sự việc gây cấn, biết người đàn bà nầy sẽ làm lớn chuyện, có thể không hay nên quản giáo đành để Bà đi nhưng cho một cán bộ đi theo Bà ra đến lộ, ngăn cấm tất cả mọi loại xe : xe đò, xe hàng, xe ôm, xe đạp, cả xe chở củi, không cho chở Bà. Thế là Bà cuốc bộ hàng chục cây số, len lỏi đến nhà ga Hàng Cỏ, hối lộ nhân viên trên tàu, leo lên xe lửa, len lỏi qua bao nhiêu toa, rốt cuộc sau bao ngày về đến Sài-Gòn ».
         Người viết có ghi lại sự việc nầy trong tập thơ ‘Việt Nam tân huyết sử diễn ca’ dài 7000 câu Song Thất Lục Bát, thuật lại hết mọi cảnh đời điêu linh của nhân dân Miền Nam do cuộc ‘Ðổi đời’ bi đát của Cộng sản, động chạm đến cả Hồ Chí Minh, Lê Duẩn Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng, cả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,…Ðoạn viết về sự việc nầy trên cả trăm câu. Tiếc rằng, lúc vượt biên (cuối năm 1988), người viết không dám mang theo tập thơ viết tay gồm cả 4, 5 quyển tập học trò, sợ bị bắt thì chỉ tù rục xương hoặc bị đánh đập đến chết. Cũng rất tiếc, người viết không hỏi rõ người vợ lính đó cùng chồng tên gì, bị giam tại trại tù nào. Nay chỉ còn nhớ đôi đoạn ngắn như sau :
          -Lần hai, Bà ra ngủ bên mộ chồng :
                                                -Năm sau nữa, đội mưa đạp nắng
                                                 Nửa vừng trăng, nếp trán rưng rưng
                                                 Mồ hoang lại ngủ bên chồng
                                                 Tóc thề thêm một thủy chung đất trời…
          -Lần ba, có đoạn sau :
                                                -Năm sau nữa, rừng hoang núi vắng
                                                 Ðêm cùng ngày gió đắng mưa cay
                                                 Ðến bên quản giáo tỏ bày
                                                 Chồng tôi mộ đã xanh dày cỏ hoang
                                                Xin cho lần nữa đoạn tang
                                                Dù thêm bước mới, cũng tròn thủy chung….
          Sau nầy, năm 2005, trong quyển ‘Khung Trời Hướng Vọng’  viết về thơ 16 tác giả hải ngoại, lúc viết về thơ Mạc Phương Ðình nói đến những khổ cực, đắng cay của người vợ trọn nghĩa cùng mình, có đoạn :
                                                 ‘’Xin được viết trên lá rừng vạn dặm
                                                   Một chữ tình chung nhất để yêu em
                                                   Dòng suối nhỏ mang lá về với biển
                                                   Ðể nghìn năm tình ấy vẫn mênh mông’’…
                                                                                       Mạc Phương Ðình
          Nhân đoạn thơ đó và nghĩ đến những gương phụ nữ anh hùng suốt thời gian qua, tôi đã viết : ‘’Rừng vạn dặm, biển mênh mông từ nay mang chở hàng hàng chiếc lá thủy chung, ân tình, bất khuất của nữ lưu người Việt cạnh bao đấng hùng anh trong sa cơ vẫn không khuất nhục, đầu hàng. Cho dù ‘vô danh’, khiêm nhượng, cho dù không được lịch sử chép ghi nhưng những gương sáng đó vẫn được đời đời gìn giữ : ‘sử văn lỗi chép, sử tình vẫn ghi’. Còn có những người nữ như thế, còn những người nam nhi như thế, dân tộc Việt Nam miên viễn vẫn hùng anh và lịch sử sẽ lại sớm huy hoàng sau giai đoạn bị đẩy chìm vào tăm tới’’ (‘Khung Trời Hướng Vọng’, trang 355).
                                                                                                                                   Nguyễn Thùy

Wednesday, April 2, 2014

Tân Ban Chấp Hành Hôi Đồng Hương Quảng Đà Bắc Cali

Chiều ngày 3/23/2014 tại phòng khách nhà anh Phan Như Nghĩa, một buổi họp để bầu lại Ban Chấp hành mới cho Hội Đồng hương QN/DN bắc Cali, thay thế cho BCH Hội đã mãn nhiệm kỳ (Hai năm).

Sau phần kiểm điểm công tác đã thực hiện cho Hội trong hai năm qua, từ việc  tổ chức các buổi hội ngộ hàng năm cho Hội cùng thân hữu, tổ chức picnic Hè, Gây quĩ cho chương trình khuyến học, và nhất là gây quỉ giúp đông bào trong nước sau cơn bão lụt lớn vào tháng 9/2013 với kết quả rất khả quan, trên Mười sáu ngàn Đô la đã được kịp thời chuyển về giúp cho nhiều gia đình gặp cảnh bất hạnh của Thiên tai.


Anh Nguyễn Văn Hoàng, với sự phụ tá của Bác sĩ Tống Diệu Liên, anh Phan Như Nghĩa cùng toàn Ban đã được Quí vị trong Ban Tham vấn tuyên dương khích lệ tinh thần vì nhiệt tình lo việc chung, cho Hội một cách chu đáo, và đề nghị lưu nhiệm. 


Tuy nhiên vì lý do riêng về sức khoẻ và gia đình, anh Hội trưởng Hoàng đã xin từ chối, xin bầu lại một Hội Trưởng mới. Sau đó cuộc họp đã thống nhất ý kiến đề cử 4 ngưởi : Anh Hoàng, Chi Diệu Liên, anh Đức và anh Nghĩa. Các Anh Chị được đề cử  có vài lời sơ lược hoàn cảnh riêng. Cuối cùng cuộc bỏ phiếu kín được diễn ra và kết quả anh Lê Văn Đức được bầu chính thức là Hội Trưởng với số phiếu cao nhất.


Sau đây là một vài hình ảnh ghi lại trong ngày họp bầu BCH như đã sơ lược ở trên,





Sau khi đã chính thức được bầu, anh Lê Văn Đức bày tỏ lời cám ơn sự tín nhiệm của 26 người hiện dịện và xin hứa cố gắng làm việc để gìn giữ và phát triển Hội càng ngày càng đông vui và đầm ấm tình đồng hương và Anh cũng ngõ lời mời chị Diệu Liên và anh Nghĩa tiếp tục nhiệm vụ Hội phó Ngoại vụ và Nội vụ cùng các Ban liên hệ xin tiếp tục công việc chung của Hội.

(mpd tường trình từ..San José)



Tình Sưa - Thơ Ánh Nguyệt



Anh đi mấy mươi năm
Bỏ em buồn thơ thẫn
Nhìn hoa Sưa bừng nở
Qua mỗi độ xuân sang

Ngàn hoa bay theo gió
Rớt xuống dòng sông xanh
Nơi chúng mình ra ngắm
Đàn Sáo bay ngang trời

Hè đến Sưa mát rượi
Chẳng thấy ông mặt trời
Bầy em thơ chạy nhảy
Ve sầu  ca râm ran.

Anh đi hàng Sưa nhỏ
Bây giờ hàng Sưa to
Muà thu về lá đổ
Một nổi buồn dâng cao

Muà Đông sầu ảm đạm
Cành trơ vơ vươn trời
Như cánh tay vẫy gọi
Người ơi! buồn đầy vơi

Đây muà xuân tràn ngập
Ánh nắng hồng lã lơi
Bên hiên nhà mát rượi
Mùi hương hoa Sưa mời

Hoa  tưng bừngtrên cây
Hoa rợp cả phố phường
Hoa rơi bên lối nhỏ
Nhớ người xa chưa về

Anh ơi, ngày trở lại
Em đã già đi rồi
Đừng cầm tay em nữa
Mà giòng lệ tuôn rơi

Anh ơi, ngày anh về
Đôi mắt em chắc mờ
Chỉ nghe gió xào xạc
Đưa hoa bay la đà

Em chỉ nghe xao động
Bước chân anh qua thềm
Mùi hoa Sưa thầm nhắc
Anh về lại thăm quê…


Ánh Nguyệt

Tình Cha - Thơ Nguyễn Văn Mỹ


Cha tôi nay đã bát tuần
Mà còn phải vác phải khuân cả ngày
Đã từ mấy chục năm nay
Ngày đêm vất vả chân tay không ngừng
Sớm tinh sương đã lên rừng
Chặt cây đốn củi cấy từng luống khoai
Vườn trong cho tới ruộng ngoài
Cha tôi cũng vẫn trông coi một mình
Nước non bao bận biến hình
Từ thời Pháp thuộc, Việt minh say này
Khí binh cha vẫn cái cày
Từ thời ông nội của mày lại tao
Mồ hôi trộn với máu đào
Nuôi con giúp vợ đâu nào thở than !

Dù ai cho bạc cho vàng
Cũng không rời bỏ xóm làng thân yêu
Cha tôi không được học nhiều
Nhưng cha lại biết thương yêu họ hàng
Lợi danh cha cũng không màng
Chỉ mong sao đủ nuôi đàn con thơ
Năm tư chia cắt đôi bờ
Giặc về đạn bắn xác xơ xóm làng
Gia đình tôi phải ly tan
Con đi nghĩa vụ, miên man cha buồn
Hai hàng lệ cứ nhỏ tuông
Giống như giòng nước trong nguồn chảy ra
Con tôi chinh chiến, miền xa
Bao giờ con mới về nhà được đây?
Trời cao đất rộng có hay!
Chiến tranh chi để đọa đày chúng sinh
Bao năm chinh chiến quê mình
Mong ngày đất nước thanh bình yên vui
Chiến tranh nay đã hết rồi
Nhưng tôi lại phải lên đồi xuống non
Tấm thân tù tội hao mòn
Một thời vạm vỡ nay còn có xương
Mác lê gọi chốn thiên đường
Nhưng sao tôi thấy nhiễu nhương cho đời...
Lão Hồ nằm đó mà ngơi
Sao không ngồi dậy trả lời thần dân
Để cho một lũ cán bần
Bắt dân phải chịu làm thân trâu bò
Thuế cao thì có dân lo
Mang về bỏ hết vào kho chia lời
Thương dân như rứa hỡi Trời?
Tám mươi mà muốn nghỉ ngơi, đừng hòng

Nguyễn Văn Mỹ (3/96)

Kính tặng những người cha Việt Nam cần cù, nhẫn nại đã có những

người con phải chịu cảnh "học tập cải tạo" trong lao tù Cọng sản.

Tuesday, March 25, 2014

Sáng kiến Trí tuệ dân Quảng Nam - Hội An

Đâu có cần bằng Tiến Sĩ như 24 ngàn Tiến sĩ ở Việt Nam,

Sườn xe đạp bằng Tre

Sau nhiều năm tìm tòi, thử nghiệm, anh Võ Tấn Tân ở phố cổ Hội An (Quảng Nam) sản xuất thành công khung xe đạp bằng cây tre gai để xuất sang Hà Lan với giá đến 500 USD. 
24-3-Anh-1-Xe-dap-tre-6359-1395656543.jp
Lớn lên trong gia đình giàu truyền thống làm nghề thủ công mỹ nghệ ở xã Cẩm Thanh, TP Hội An, từ nhỏ anh Tân sớm tập tành làm nhiều vật dụng sinh hoạt từ tre, dừa, nứa. Sau nhiều năm ấp ủ làm xe đạp bằng tre, nứa, đến đầu năm 2012, anh gặp người bạn là Axel Lakassen (quốc tịch Hà Lan) có chung ý tưởng nên cùng bắt tay làm suốt hơn một năm qua. 
24-3-Anh-2-Xe-dap-tre-7695-1395656543.jp
Để tạo khung xe đạp chắc chắn, anh phải chọn lựa nhiều khúc tre gai già, mỗi thanh tre trải qua kiểm tra chịu lực khắt khe bằng đòn bẩy. Bắt tay vào làm xe đạp bằng tre, anh Tân đầu tư khoảng 50 triệu đồng mua máy cưa, bào, chà nhám, máy khoan, bộ định vị cho khung xe... Ngoài ra, anh dự tính đầu tư mỗi năm khoảng 5 triệu đồng mua 500 cây tre gai về ngâm bùn, phơi rồi sử dụng dần. 
24-3-Anh-3-Xe-dap-tre-4063-1395656543.jp
Theo anh Tân, làm khung xe đạp bằng tre gai rắn chắc. Gia đình đặt mua nguyên liệu hơn 4 năm tuổi trong xã hoặc ở các vùng ven sông Quế Sơn, Điện Bàn đóng bè vận chuyển về nhà bằng đường sông Thu Bồn. Tre được xử lý ngâm bùn 6 tháng, sau đó vớt lên phơi khô rồi đưa vào kho dự trữ sử dụng dần. "Theo đơn đặt hàng xuất sang Hà Lan có giá ít nhất là 5 triệu đồng mỗi khung xe đạp tre thì chỉ cần bán 1 sản phẩm là có thể đủ tiền mua tre sản xuất khung xe đạp cả năm và thu về lãi lớn", anh Tân thổ lộ.
 
24-1-Anh-2-Xe-dap-tre.jpg
Axel động viên tôi rằng nhu cầu tiêu thụ xe đạp thân thiện với môi trường ở Hà Lan rất lớn nên làm sản phẩm không sợ bí đầu ra. Qua lời giới thiệu của Axel, tôi đã xuất bán sang Hà Lan 5 khung xe đạp leo núi với chất liệu bằng tre gai với giá 450 đến 500 USD", Anh Tân cho hay. 
24-1-Anh-3-Xe-dap-tre.jpg
Theo anh Tân, loại tre gai có thân nhỏ nhưng dẻo dai, bền chắc phù hợp làm khung xe đạp cho cả nam và nữ. 
24-1-Anh-4-Xe-dap-tre.jpg
 Khó nhất trong quá trình làm khung xe là kỹ thuật nối giữa tre và kim loại sao cho khớp. "Tôi đã dùng sợi gai tự nhiên và keo tổng hợp để kết nối giữa tre và kim loại đảm bảo khung xe đạp không nứt khi nhiệt độ thay đổi", anh Tân tiết lộ. Năm nay, anh dự định sản xuất khoảng 20 chiếc xe đạp (leo núi và xe đua) làm bằng khung tre để xuất sang Hà Lan theo đơn đặt hàng, một số để lại phục vụ khách du lịch ngắm cảnh vùng ven phố cổ Hội An.
24-1-Anh-5-Xe-dap-tre.jpg
 Tháng 10/2013, UBND TP Hội An đã đưa vào khai thác khu trung tâm làng nghề tre, dừa, nứa xã Cẩm Thanh nhằm tạo thêm sản phẩm du lịch sinh thái sông nước cho địa phương. Cơ sở sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ, khung xe đạp bằng tre độc đáo của gia đình anh Tân thu hút khách nước ngoài đến tham quan." Hy vọng với mô hình tour du lịch đi xe đạp tre tham quan vùng ven phố cổ Hội An kết hợp với hướng dẫn cách làm khung xe đạp bằng tre, mỗi năm cơ sở của tôi có thể thu về ít nhất khoảng 100 triệu đồng", anh Tân cho biết thêm.
24-1-Anh-6-Xe-dap-tre.jpg
"Việc anh Tân sản xuất xe đạp bằng khung tre vừa góp thêm sản phẩm du lịch độc đáo, vừa mở ra hướng làm ăn mới cho người dân địa phương. Tôi tin anh làm tour du lịch với mô hình xe đạp bằng tre này sẽ hấp dẫn du khách đến với trung tâm làng nghề tre, dừa, nứa Cẩm Thanh và vùng ven sinh thái của phố cổ Hội An trong thời gian tới", ông Lê Thanh, Chủ tịch UBND xã Cẩm Thanh lạc quan. 
24-1-Anh-7-Xe-dap-tre.jpg
Bên cạnh làm xe đạp bằng tre, anh Tân còn làm nhiều sản phẩm lưu niệm làm bằng tre độc đáo, tinh xảo làm quà cho du khách.
24-1-Anh-8-Xe-dap-tre.jpg
Anh Tân thổ lộ, thông qua sản phẩm xe đạp và các vật dụng lưu niệm bằng tre, anh hy vọng bạn bè quốc tế biết đến nhiều hơn về cây tre, loài cây mộc mạc, bền bỉ, dẻo dai ví như "hồn làng" của miền quê Việt Nam.
Đâ